Post
Mời góp ý cho danh sách Công nghệ Cao
March 4, 2009March 4, 2009 Add comment3 comments Science Science

Bộ khoa học Công nghệ đang soạn thảo danh sách Công nghệ cao và sản phẩm Công nghệ cao đề trình chính phủ. Vietscientists nhận được thư mời góp ý kiến và xin ý kiến của thành viên. Vậy rất mong các OVRENers bớt chút thời gian góp một ý kiến xây dựng danh sách Công nghệ Cao và sản phẩm Công nghệ cao được ưu tiên đầu tư. Dưới đây là toàn văn thư mời góp ý của Vụ Công nghệ Cao, Bộ KHCN.

Kính gửi: (OVRENers)..

Luật Công nghệ cao đã được Quốc hội thông qua và sẽ chính thức có hiệu lực từ 01/07/2009. Trong Luật này Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nhiệm vụ chủ trì phối hợp với các cơ quan ban ngành có liên quan trình Thủ tướng Chính phủ ban hành “Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển” và “ Danh mục sản phẩm Công nghệ cao được khuyến khích phát triển”.


Được Bộ Khoa học và Công nghệ giao nhiệm vụ tham mưu đề xuất để xây dựng dự thảo hai Danh mục nêu trên, Vụ Công nghệ cao xin đề nghị ông/bà tham gia đóng góp ý kiến, đề xuất các công nghệ cao và sản phẩm công nghệ cao cần ưu tiên đầu tư và khuyến khích phát triển tại Việt Nam trong lĩnh vực chuyên ngành của mình.


Để thuận lợi cho việc góp ý, đề xuất, chúng tôi xin cung cấp một số thông tin tham khảo sau:


1. Ý nghĩa của việc ban hành Danh mục công nghệ cao được ưu tiên và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển:


a) Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển thể hiện định hướng và ưu tiên phát triển công nghệ cao của nước ta trong từng thời kỳ.


b) Trên cơ sở Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển sẽ xác định các sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển. Nói cách khác, sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển phải dựa trên Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển.


c) Nhà nước dành các ưu tiên cao nhất về đất đai, các thuế và các hỗ trợ trực tiếp về tài chính cho các ứng dụng, nghiên cứu, ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ, chuyển giao công nghệ, nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm công nghệ cao nhưng các công nghệ cao đó phải thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đâu tư phát triển. Đây là biện pháp tập trung ưu tiên, ưu đãi và đầu tư của Nhà nước, tránh việc ưu tiên, ưu đãi và đầu tư dàn trải. Đồng thời việc xây dựng và công bố công khai Danh mục công nghệ ưu tiên sẽ thể hiện được tính minh bạch trong việc thực hiện chính sách ưu tiên và đầu tư của Nhà nước.

d) Nhà nước dành các ưu tiên cao nhất về đất đai, các thuế và các hỗ trợ trực tiếp về tài chính cho các dự án sản xuất sản phẩm công nghệ cao, cho các doanh nghiệp công nghệ cao. Để đảm chính sách ưu đãi được thực hiện tốt, đòi hỏi các sản phẩm công nghệ cao thuộc các dự án, doanh nghiệp được ưu đãi phải thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển.

Như vậy, việc ban hành Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển thể hiện định hướng ưu tiên phát triển công nghệ cao ở nước ta trong từng thời kỳ. Đồng thời để áp dụng chính sách ưu tiên, ưu đãi, đầu tư của Nhà nước một cách có hiệu quả, tránh đầu tư dàn trản và tránh việc lợi dụng các chính sách ưu tiên, ưu đãi của Nhà nước.

2. Phương pháp tiến hành và lộ trình thực hiện

1. Xin ý kiến đề xuất:

Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ thực hiện việc xin ý kiến đề xuất các công nghệ cao, các sản phẩm công nghệ cao cần được ưu tiên đầu tư và khuyến khích phát triển theo ý kiến riêng của các chuyên gia, các cơ sở nghiên cứu, một số doanh nghiệp, các hiệp hội nghề nghiệp, các Khu công nghệ cao, một số Khu công nghiệp, Khu chế xuất, các Bộ, ngành và một số tỉnh, thành phố thuộc các vùng kinh tế trọng điểm. Công việc được hoàn thành vào cuối tháng 2 .

2. Tập hợp và dự thảo Danh mục và hội thảo

Trên cơ sở các đề xuất được tập hợp, Bộ Khoa học và Công nghệ dự thảo phiên bản 1 của Danh mục, tổ chức trao đổi với các nơi đề xuất và Hội thảo theo từng lĩnh vực công nghệ. Công việc sẽ hoàn thành vào cuối tháng 4.

3. Xin ý kiến chính thức Danh mục.

Bộ Khoa học và Công nghệ công bố Dự thảo Phiên bản 2 của Danh mục để xin ý kiến rộng rãi trên một số trang web và xin ý kiến các Bộ, ngành, Hiệp Hội nghề nghiệp, các Khu công nghệ cao. Cuối tháng 5 hoàn thành việc xin ý kiến.và Bộ KHCN xây dựng Dự thảo Phiên bản 3.

4. Xin ý kiến thẩm định Bộ Tư Pháp.

Theo quy trình về thủ tục văn bản pháp Luật, Bộ KHCN dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển gửi Bộ Tư pháp thẩm định. Công việc thẩm định dự kiến hoàn thành vào cuối tháng 6.

5. Trình Thủ tướng Chính phủ quyết định

Sau khi có ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp, Bộ KHCN hoàn thiện Dự thảo Phiên bản 4 và trình Thủ tướng Chính phủ xem xét và quyết định vào đầu tháng 7 năm 2008.

Vì công nghệ cao được thay đổi rất nhanh nên hai Danh mục này sẽ được Bộ Khoa học và Công nghệ trình Thủ tướng Chính phủ cập nhập hàng năm.

3. Các căn cứ để đề xuất công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển

a) Định nghĩa công nghệ cao theo Luật Công nghệ cao : Công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại; tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường; có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có.
công nghệ cao trong các lĩnh vực công nghệ sau đây:

b) Ưu tiên lựa chọn
- Công nghệ thông tin;
- Công nghệ sinh học;
- Công nghệ vật liệu mới;
- Công nghệ tự động hóa.
Đối với các công nghệ cao không thuộc 4 lĩnh vực nêu trên, xin ông/bà căn
cứ vào nhu cầu cấp bách trong kế hoạch phát triển của ngành vẫn có thể đề xuất
để Bộ Khoa học và Công nghệ xem xét, lựa chọn trình Thủ tướng Chính phủ
quyết định..

c) Công nghệ đươc lựa chọn phải đáp ứng được đầy đủ các điều kiện sau
đây:

 

  • Là công nghệ tiên tiến trên thế giới, đồng thời phải là công nghệ mới trên thế giới hoặc là công nghệ mới đối với Việt Nam. Nhũng công nghệ này phải phù hợp với xu hướng phát triển khoa học và công nghệ hiện đại trên thế giới.
  • Là công nghệ có thể phát huy được lợi thế của đất nước như sử dụng được hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, khí hậu, môi trường, nguồn nhân lực và các lợi thế khác.
  • Có tính khả thi cao trong việc thu hút đầu tư, ứng dụng công nghệ, chuyển giao công nghệ hoặc sáng tạo được công nghệ. Cần cân nhắc kỹ yếu tố khả thi về nhân lực và tài lực đối với việc tiếp thu, chuyển giao và sáng tạo công nghệ.
  • Phù hợp với tầm nhìn, chiến lược, kế hoạch dài hạn phát triển của ngành và:
  1. Có tác động mạnh và mang lại hiệu quả lớn đối với sự phát triển của các ngành, lĩnh vực trong pham vi quản lý của quý cơ quan, hoặc
  2. Góp phần hiện đại hóa các ngành sản xuất, dịch vụ hiện có, hoặc
  3. Là yếu tố quan trọng quyết định việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụmới có sức cạnh tranh và hiệu quả kinh tế - xã hội cao.

Trong phần đề xuất của mình rất mong ông/bà có các luận cứ, số liệu, định lượng được về các yếu tố để lựa chọn công nghệ cao do ông/ bà đề xuất.


4. Các căn cứ đề xuất sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích hát triển

a) Định nghĩa Sản phẩm công nghệ cao trong Luật Công nghệ cao: là sản phẩm do công nghệ cao tạo ra, có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường.
b) Sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển là sản phẩm
được tạo ra từ công nghệ cao thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư
phát triển và đáp ứng các điều kiện sau đây:

  • Có tỷ trọng giá trị gia tăng cao trong cơ cấu giá trị sản phẩm;
  • Có tính cạnh tranh cao và hiệu quả kinh tế - xã hội lớn;
  • Có khả năng xuất khẩu hoặc thay thế sản phẩm nhập khẩu;
  • Góp phần nâng cao năng lực khoa học và công nghệ quốc gia.

Rất mong ông/bà trong đề xuất của mình có luận cứ, số liệu và định lượng được các yếu tố làm cơ sở cho việc lựa chọn sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển.

Xin đề nghị ông/ bà tham khảo danh mục sản phẩm công nghệ cao của Mỹ, OECD, Nhật Bản và Trung Quốc trong tài liệu tham khảo kèm theo thư tín điện tử này. Ngoài ra ông/bà cũng có thể tham khảo tiêu chí xét duyệt dự án sản xuất sản phẩm công nghệ cao của Ban quản lý Khu CNC Hòa Lạc như: giá trị gia tăng trong sản xuất sản phẩm tối thiểu là 30%, Giá trị đầu tư trên 1 ha đất sử dụng cho sản xuất sản phẩm CNC tối thiểu là 10 triệu USD.

5. Một số lưu ý khi đề xuất công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích đầu tư phát triển

Như đã nêu trên, trong phần đề xuất của mình, xin ông bà lưu ý đến một số vấn đề sau:
a) Công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển có quan hệ mật thiết với nhau. Khi đề xuất sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển phải có đề xuất kèm theo công nghệ cao nào là công nghệ nền tảng để tạo ra sản phẩm đó.
Thí dụ:
Công nghệ: công nghệ chế tạo/sản xuất vắc xin tái tổ hợp
Sản phẩm: Vắc xin Viêm gan B tái tổ hợp.
b) Cần đề xuất công nghệ cao và sản phẩm công nghệ cao với thông số kỹ thuật để thể hiện tính hiện đại, tiên tiến và tính mới của sản phẩm.

Thí dụ 1:

Sản phẩm: Chip máy tính dưới 45 nanô mét
Công nghệ: Công nghệ chế tạo các bộ vi sử lý bán dẫn dưới 45 na nô
mét.

Thí dụ 2:

Công nghệ: Công nghệ chế tạo polymer siêu hấp thụ nước
Sản phẩm: Vật liệu polimer siêu hấp thụ nước có khả năng hấp thụ 300-400g H2O/1 g sản phẩm, tốc độ hấp thụ nước 25 phút, thời gian giữ nước 12-15 tháng, sử dụng nguyên liệu trong nước.
c) Một số công nghệ được đề xuất là những công nghệ cao nhưng không nhất thiết phải tạo ra sản phẩm hàng hóa là sản phẩm công nghệ cao mà chỉ tạo ra những ứng dụng có ý nghĩa rất lớn trong kinh tế -xã hội.

Thí dụ: Công nghệ ghép gan.

Vụ công nghệ cao rất mong được ông/ bà cho ý kiến đề xuất và gửi cho Vụ công nghệ cao trước ngày 28 tháng 2 năm 2009. Trong quá trình xin ý kiến xin ông/bà liên hệ với Vụ CNC theo số máy 043 9438418.
Xin trân trọng cám ơn./.
Vụ công nghệ cao.

TagsTags: hightech 
comments
aigu (535 Days Ago)

Rất nhiều loại thuốc đang dùng để điều trị một số bệnh nguy hiểm, và có xu hướng tăng nhanh ở các  nước đang phát triển mạnh như Việt Nam, có bản chất là protein. Việc nghiên cứu sản xuất và đưa các loại protein này vào điều trị được khởi xướng bởi những tập đoàn dược phẩm đa quốc gia và vì thế toàn bộ sản phẩm của họ đã được bảo hộ (patented).

Việc bảo hộ những sản phẩm mới cho phép các tập đoàn này trở thành độc quyền trong việc cung cấp loại thuốc đó, từ đó họ đẩy giá thành lên cao nhằm thu lợi một phần trong đó để tái đầu tư nghiên cứu loại thuốc mới. Như vậy việc bảo hộ các sản phẩm mới là cơ sở để khuyến khích các tập đoàn Công nghệ Sinh học và Dược phẩm đầu tư nghiên cứu phát hiện các loại thuốc mới phục vụ điều trị nâng cao sức khỏe con người.

Tuy nhiên giá thành của các loại thuốc này thường quá cao so với khả năng chi trả của bệnh nhân nghèo và bệnh nhân ở các nước đang phát triển như Việt Nam. Luật bảo hộ sản phẩm cho phép mỗi sản phẩm đang ký được bảo hộ trong vòng 20 năm. Gần đây hàng lọat bảo hộ cho các sản phẩm thuốc có bản chất protein đã hết hạn. Trên cơ sở pháp lý này đã bắt đầu có những công ty nghiên cứu sản xuất và thương mại hóa sản phẩm thuốc đã hết hạn bảo hộ. Những loại thuốc này được gọi là “biogenerics” hay “biosimilars”, sản phẩm đầu tiên được cấp phép lưu hành tại Châu Âu là Epoetin cho Công ty Sandoz GmbH và hai công ty khác sản xuất.

Do sự hết hạn của patent bảo hộ, bất kì công ty nào hay Viện nghiên cứu nào cũng có toàn quyền nghiên cứu và sản xuất các loại thuốc đó, nhờ đó giá thành thường rẻ hơn nhiều so với sản phẩm bảo hộ. Tuy nhiên do có bản chất là protein (có cấu trúc nhạy cảm với những thay đổi trong điều kiện sản xuất), nên việc cấp phép lưu hành những sản này thường phải được dựa trên những số liệu nghiên cứu thử nghiệm cụ thể và rõ ràng mà chứ không chỉ dựa vào việc chứng minh sản phẩm này có cấu trúc tương tự như sản phẩm đã được phép lưu hành.

Khác với việc sản xuất protein tái tổ hợp phục vụ nghiên cứu in vitro hay chẩn đoán, việc sản xuất protein tái tổ hợp phục vụ điều trị không thể sử dụng các hệ thống biểu hiện trên sinh vật bậc thấp như vi khuẩn hay nấm men do bộ máy “đóng gói” protein (protein folding machinery) của hệ sinh vật bậc thấp không thể tạo ra được protein có cấu trúc hoàn toàn tương đồng với vật chủ tự nhiên (thường là người) vì thế sản phẩm đó sẽ gây đáp ứng miễn dịch không mong muốn.

Vì những lý do nêu trên, các loại thuốc có bản chất protein phục vụ điều trị đều phải được sản xuất trên những dòng tế bào động vật bậc cao (CHO, Chinese Hamster Ovary; NS0, Mouse Myeloma; BHK, Baby Hamster Kidney, v.v) thậm chí là dòng thế bào người (HEK-293, Human Embryo Kidney; human retinal cells).

Ưu điểm của việc sản xuất protein điều trị bằng các dòng tế bào động vật có vú là có thể sản xuất được protein có cấu trúc bậc 4 hoàn toàn tương đồng với protein sản xuất tự nhiên trong cơ thể người, nhờ đó mà các đáp ứng miễn dịch không mong muốn không hoặc ít xảy ra. Tuy nhiên một trong những vấn đề cốt lõi cần giải quyết là các dòng tế bào này thường chỉ tổng hợp được protein với hàm lượng rất thấp. Để có được công nghệ tốt và giá thành sản phẩm rẻ người ta phải nghiên cứu tối ưu hóa dòng tế bào, qui trình nuôi cấy và thu nhận sản phẩm protein từ các dòng tế bào này.

Với những cơ sở tóm tắt nêu trên tôi đề xuất đưa vào danh mục công nghệ cao ưu tiên đầu tư là “Nghiên cứu, tiếp nhận và tối ưu hóa công nghệ sản xuất protein tái tổ hợp phục vụ điều trị”.

Sản phẩm ban đầu của công nghệ này có thể là một trong các protein sau đây: Insulin, yếu tố đông máu (human factor VIII), interferon, Epoetin.



aigu (550 Days Ago)

Về cái deadline nộp ý kiến dù đã qua nhưng aigu có nhận được ý kiến của nhóm soạn thảo cho biết họ sẽ tiếp tục nhận và bổ sung ý kiến đến sát ngày hội thảo - Tháng 5 2009 . . .

 

Xin cám ơn



tran_pls (547 Days Ago)

Để lập được danh mục CNC “Là công nghệ tiên tiến trên thế giới, đồng thời phải là công nghệ mới trên thế giới hoặc là công nghệ mới đối với Việt Nam” cần ưu tiên phát triển dựa theo kinh nghiệm của thế giới, của các nước phát triển thì không khó. Thế nhưng vấn đề khó là ở chỗ khi chúng ta có danh mục CNC rồi, thì làm sao để thực hiện? Tính khả thi có cao trong điều kiện Việt nam? Nhân lực và tài chính để thực hiện? Khả năng thu hút đầu tư, cạnh tranh với các nước để giành lấy đầu tư (ta xác định là CNC thì xác xuất lớn là các nước khác, nhất là các nước có mức độ phát triển giống chúng ta, các nước láng giềng cũng xác định là CNC)? Dĩ nhiên là không ai muốn đầa tư thời gian vào lập ra danh mục CNC rồi sau đó cho vào ngăn kéo. Hoặc là chính phủ nghĩ rằng lập danh mục CNC chỉ để tạo điều kiện ưu tiên, kêu gọi nước ngòai đầu tư vào trong những lĩnh vực nằm trong danh mục CNC. Vì vậy tôi có vài ý kiến như sau, trước khi đi vào cụ thể danh mục CNC gồm những gì?

 

 

Đánh giá tổng quan tiềm năng của Việt nam

1. Nhân lực:

Điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công kế họach đầu tư và phát triển CNC là chúng ta phải có chất xám, phải huy động được tối đa chất xám của chúng ta. Vì thế theo tôi trước hết chúng ta phải thống kê được chúng ta có được bao nhiêu nhà khoa học (KH) có khả năng lãnh đạo, điều hành và thực hiện thành công CNC? Chúng ta có bao nhiêu nhà KH có tầm cỡ Việt nam, bao nhiêu nhà KH có tầm cỡ thế giới? Nhà nước có tính đến khả năng mời chuyên gia Việt kiều, hay chuyên gia nước ngòai đến Việt nam lãnh đạo và điều hành dự án nghiên cứu CNC? Nếu có, vậy chúng ta đã có luật “sử dụng chuyên gia nước ngòai” chưa, hay là chúng ta đã làm gì để khuyến khích người nước ngòai đến Việt nam làm KH (chuyên gia Việt kiều cũng là người nước ngòai, vì họ có hộ chiếu nước ngòai)? Nếu chưa có, vậy những chính sách khuyến khích chuyên gia nước ngòai đến Việt nam làm KH sẽ được ban hành song song? Đây là điều chúng ta phải cân nhắc và tính tóan cẩn thận. Hãy lấy Singapore làm ví dụ. Chuyên gia làm CNSH ở Singapore, như chẳng hạn ở Tamasek phần lớn là người nước ngòai.

Nhân lực là một yếu tố quan trọng, thành bại, có thu hút được đầu tư của nước ngòai hay không cũng là ở đây. Nước ngòai sẵn sang bỏ tiền để đầu tư, chúng ta không có nhân lực cung cấp, không thể thu hút họ đến.

 

2. Tài lực

Đầu tư nghiên cứu để phát triển CNC thường rất tốn kém, thường là không thể thấy ngay được sản phẩm, trừ trường hợp chúng ta đi mua ngay CNC (quy trình sản xuất) của nước ngòai về sản xuất tại Việt nam (chúng ta chỉ cần biết vận hành, nhưng dĩ nhiên mua CN cũng không rẻ, nhân lực để vận hành cũng cần đào tạo). Chính phủ có dự định hang năm sẽ chi ra bao nhiêu tiền để đầu tư, nghiên cứu và ứng dụng những CNC sẽ lên danh mục?

 

3. Tài nguyên, môi trường

Để lập được danh mục CNC có hiệu quả kinh tế và KH cho Việt nam, ngòai vấn đề về nhân lực và sự quan tâm đầu tư từ chính phủ, chúng ta phải biết được các điều kiện về tài nguyên môi trường của chúng ta. Nếu không, chúng ta lập ra danh mục, nhưng lại không có điều kiện để sản xuất, chẳng hạn không có đủ nguyên vật liệu, điều kiện môi trường không thích hợp v..v. Vì vậy đây cũng là một điều cần cân nhắc.

 

Quy trình lập danh mục CNC

 

1. Cách lập danh mục CNC

Tóm lại để lập được danh mục CNC chúng ta phảI nắm được các số liệu cụ thể về nhân lực, tài lực và thế mạnh/yếu về điều kiện tài nguyên, môi trường của chúng ta.

Vì chính phủ đã xác định là ưu tiên lựa chọn CNC trong các lĩnh vực sau:

- Công nghệ thông tin;

- Công nghệ sinh học;

- Công nghệ vật liệu mới;

- Công nghệ tự động hóa. 

 

Chắc chính phủ đã xác định là ta có nhân lực và nguồn lực để phát triển các ngành CN này? Như vậy chính phủ đã thành lập những ban cố vấn (advisory board) trong từng lĩnh vực kể trên? Nếu tôi muốn thảo luận cụ thể, ví dụ trong CNSH chúng ta ưu tiên cái gi? Cái gì là thế mạnh của Việt nam? CNSH Thực vật, hay CNSH Động vật, hay CNSH vi sinh, hay CNSH Y khoa? Tôi phải thảo luận với ai? Có thể ở nước khác CNSH Thực vật là quan trọng, nhưng ở Việt nam thì là CNSH Động vật vì chẳng hạn chúng ta không có chuyên gia CNSH Thực vật, hay là ở Việt nam, điều kiện để phát triển CNSH Động vật tốt hơn. Như trên đã nói, chúng ta phảI có các chuyên gia cụ thể của từng ngành đánh giá tổng quan thế mạnh và thế yếu của chúng ta với liên quan từng ngành. Nhiệm vụ của ban cố vấn này sẽ là xác định cụ thể lĩnh vực gì là quan trong, cần ưu tiên ở Việt nam trong 4 lĩnh vực mà chính phủ đã đề ra? Lĩnh vực nào kêu gọI và ưu tiên nước ngòai đầu tư, lĩnh vực nào có thể dùng nội lực trong nước v.v.v.

 

2. Kế họach thực hiện 

Ban cố vấn sẽ đề cử người chịu trách nhiệm cho từng lĩnh vực nhỏ, làm đầu mối liên lạc và điều hành chương trình. NgườI này phải hiểu chuyên môn sâu, có uy tín trong lĩnh vực mà mình đại diện. Người này sẽ lên kế họach cụ thể về nghiên cứu, đầu tư phát triển, kêu gọi nước ngòai hợp tác v..v.v

 

 



Description
aigu
Posts: 18
Comments: 12
Aigu's Blog for Science & Education
Categories
Science (12)
Education (4)
Tags
1 aigu (1)
1 thesis (1)
1 research (1)
1 postdoc (1)
3 graduate (3)
1 selenium (1)
1 vietnam (1)
1 mard (1)
1 forage (1)
1 ruminant (1)
1 biocoating (1)
1 food (1)
1 beer (1)
1 paper (1)
1 safety (1)
1 vnn (1)
1 interview (1)
1 science (1)
1 biofuel (1)
1 hightech (1)
1 toefl-ibt (1)
2 student (2)
1 vnkr (1)
1 322 (1)
Copyright © 2010 Overseas Vietnamese Researcher and Educator Network (OVREN).