Posts
March 4, 2009March 4, 2009 Add comment3 comments Science Science

Bộ khoa học Công nghệ đang soạn thảo danh sách Công nghệ cao và sản phẩm Công nghệ cao đề trình chính phủ. Vietscientists nhận được thư mời góp ý kiến và xin ý kiến của thành viên. Vậy rất mong các OVRENers bớt chút thời gian góp một ý kiến xây dựng danh sách Công nghệ Cao và sản phẩm Công nghệ cao được ưu tiên đầu tư. Dưới đây là toàn văn thư mời góp ý của Vụ Công nghệ Cao, Bộ KHCN.

Kính gửi: (OVRENers)..

Luật Công nghệ cao đã được Quốc hội thông qua và sẽ chính thức có hiệu lực từ 01/07/2009. Trong Luật này Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nhiệm vụ chủ trì phối hợp với các cơ quan ban ngành có liên quan trình Thủ tướng Chính phủ ban hành “Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển” và “ Danh mục sản phẩm Công nghệ cao được khuyến khích phát triển”.


Được Bộ Khoa học và Công nghệ giao nhiệm vụ tham mưu đề xuất để xây dựng dự thảo hai Danh mục nêu trên, Vụ Công nghệ cao xin đề nghị ông/bà tham gia đóng góp ý kiến, đề xuất các công nghệ cao và sản phẩm công nghệ cao cần ưu tiên đầu tư và khuyến khích phát triển tại Việt Nam trong lĩnh vực chuyên ngành của mình.


Để thuận lợi cho việc góp ý, đề xuất, chúng tôi xin cung cấp một số thông tin tham khảo sau:


1. Ý nghĩa của việc ban hành Danh mục công nghệ cao được ưu tiên và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển:


a) Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển thể hiện định hướng và ưu tiên phát triển công nghệ cao của nước ta trong từng thời kỳ.


b) Trên cơ sở Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển sẽ xác định các sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển. Nói cách khác, sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển phải dựa trên Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển.


c) Nhà nước dành các ưu tiên cao nhất về đất đai, các thuế và các hỗ trợ trực tiếp về tài chính cho các ứng dụng, nghiên cứu, ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ, chuyển giao công nghệ, nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm công nghệ cao nhưng các công nghệ cao đó phải thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đâu tư phát triển. Đây là biện pháp tập trung ưu tiên, ưu đãi và đầu tư của Nhà nước, tránh việc ưu tiên, ưu đãi và đầu tư dàn trải. Đồng thời việc xây dựng và công bố công khai Danh mục công nghệ ưu tiên sẽ thể hiện được tính minh bạch trong việc thực hiện chính sách ưu tiên và đầu tư của Nhà nước.

d) Nhà nước dành các ưu tiên cao nhất về đất đai, các thuế và các hỗ trợ trực tiếp về tài chính cho các dự án sản xuất sản phẩm công nghệ cao, cho các doanh nghiệp công nghệ cao. Để đảm chính sách ưu đãi được thực hiện tốt, đòi hỏi các sản phẩm công nghệ cao thuộc các dự án, doanh nghiệp được ưu đãi phải thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển.

Như vậy, việc ban hành Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển thể hiện định hướng ưu tiên phát triển công nghệ cao ở nước ta trong từng thời kỳ. Đồng thời để áp dụng chính sách ưu tiên, ưu đãi, đầu tư của Nhà nước một cách có hiệu quả, tránh đầu tư dàn trản và tránh việc lợi dụng các chính sách ưu tiên, ưu đãi của Nhà nước.

2. Phương pháp tiến hành và lộ trình thực hiện

1. Xin ý kiến đề xuất:

Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ thực hiện việc xin ý kiến đề xuất các công nghệ cao, các sản phẩm công nghệ cao cần được ưu tiên đầu tư và khuyến khích phát triển theo ý kiến riêng của các chuyên gia, các cơ sở nghiên cứu, một số doanh nghiệp, các hiệp hội nghề nghiệp, các Khu công nghệ cao, một số Khu công nghiệp, Khu chế xuất, các Bộ, ngành và một số tỉnh, thành phố thuộc các vùng kinh tế trọng điểm. Công việc được hoàn thành vào cuối tháng 2 .

2. Tập hợp và dự thảo Danh mục và hội thảo

Trên cơ sở các đề xuất được tập hợp, Bộ Khoa học và Công nghệ dự thảo phiên bản 1 của Danh mục, tổ chức trao đổi với các nơi đề xuất và Hội thảo theo từng lĩnh vực công nghệ. Công việc sẽ hoàn thành vào cuối tháng 4.

3. Xin ý kiến chính thức Danh mục.

Bộ Khoa học và Công nghệ công bố Dự thảo Phiên bản 2 của Danh mục để xin ý kiến rộng rãi trên một số trang web và xin ý kiến các Bộ, ngành, Hiệp Hội nghề nghiệp, các Khu công nghệ cao. Cuối tháng 5 hoàn thành việc xin ý kiến.và Bộ KHCN xây dựng Dự thảo Phiên bản 3.

4. Xin ý kiến thẩm định Bộ Tư Pháp.

Theo quy trình về thủ tục văn bản pháp Luật, Bộ KHCN dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển gửi Bộ Tư pháp thẩm định. Công việc thẩm định dự kiến hoàn thành vào cuối tháng 6.

5. Trình Thủ tướng Chính phủ quyết định

Sau khi có ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp, Bộ KHCN hoàn thiện Dự thảo Phiên bản 4 và trình Thủ tướng Chính phủ xem xét và quyết định vào đầu tháng 7 năm 2008.

Vì công nghệ cao được thay đổi rất nhanh nên hai Danh mục này sẽ được Bộ Khoa học và Công nghệ trình Thủ tướng Chính phủ cập nhập hàng năm.

3. Các căn cứ để đề xuất công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển

a) Định nghĩa công nghệ cao theo Luật Công nghệ cao : Công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại; tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường; có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có.
công nghệ cao trong các lĩnh vực công nghệ sau đây:

b) Ưu tiên lựa chọn
- Công nghệ thông tin;
- Công nghệ sinh học;
- Công nghệ vật liệu mới;
- Công nghệ tự động hóa.
Đối với các công nghệ cao không thuộc 4 lĩnh vực nêu trên, xin ông/bà căn
cứ vào nhu cầu cấp bách trong kế hoạch phát triển của ngành vẫn có thể đề xuất
để Bộ Khoa học và Công nghệ xem xét, lựa chọn trình Thủ tướng Chính phủ
quyết định..

c) Công nghệ đươc lựa chọn phải đáp ứng được đầy đủ các điều kiện sau
đây:

 

  • Là công nghệ tiên tiến trên thế giới, đồng thời phải là công nghệ mới trên thế giới hoặc là công nghệ mới đối với Việt Nam. Nhũng công nghệ này phải phù hợp với xu hướng phát triển khoa học và công nghệ hiện đại trên thế giới.
  • Là công nghệ có thể phát huy được lợi thế của đất nước như sử dụng được hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, khí hậu, môi trường, nguồn nhân lực và các lợi thế khác.
  • Có tính khả thi cao trong việc thu hút đầu tư, ứng dụng công nghệ, chuyển giao công nghệ hoặc sáng tạo được công nghệ. Cần cân nhắc kỹ yếu tố khả thi về nhân lực và tài lực đối với việc tiếp thu, chuyển giao và sáng tạo công nghệ.
  • Phù hợp với tầm nhìn, chiến lược, kế hoạch dài hạn phát triển của ngành và:
  1. Có tác động mạnh và mang lại hiệu quả lớn đối với sự phát triển của các ngành, lĩnh vực trong pham vi quản lý của quý cơ quan, hoặc
  2. Góp phần hiện đại hóa các ngành sản xuất, dịch vụ hiện có, hoặc
  3. Là yếu tố quan trọng quyết định việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụmới có sức cạnh tranh và hiệu quả kinh tế - xã hội cao.

Trong phần đề xuất của mình rất mong ông/bà có các luận cứ, số liệu, định lượng được về các yếu tố để lựa chọn công nghệ cao do ông/ bà đề xuất.


4. Các căn cứ đề xuất sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích hát triển

a) Định nghĩa Sản phẩm công nghệ cao trong Luật Công nghệ cao: là sản phẩm do công nghệ cao tạo ra, có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường.
b) Sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển là sản phẩm
được tạo ra từ công nghệ cao thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư
phát triển và đáp ứng các điều kiện sau đây:

  • Có tỷ trọng giá trị gia tăng cao trong cơ cấu giá trị sản phẩm;
  • Có tính cạnh tranh cao và hiệu quả kinh tế - xã hội lớn;
  • Có khả năng xuất khẩu hoặc thay thế sản phẩm nhập khẩu;
  • Góp phần nâng cao năng lực khoa học và công nghệ quốc gia.

Rất mong ông/bà trong đề xuất của mình có luận cứ, số liệu và định lượng được các yếu tố làm cơ sở cho việc lựa chọn sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển.

Xin đề nghị ông/ bà tham khảo danh mục sản phẩm công nghệ cao của Mỹ, OECD, Nhật Bản và Trung Quốc trong tài liệu tham khảo kèm theo thư tín điện tử này. Ngoài ra ông/bà cũng có thể tham khảo tiêu chí xét duyệt dự án sản xuất sản phẩm công nghệ cao của Ban quản lý Khu CNC Hòa Lạc như: giá trị gia tăng trong sản xuất sản phẩm tối thiểu là 30%, Giá trị đầu tư trên 1 ha đất sử dụng cho sản xuất sản phẩm CNC tối thiểu là 10 triệu USD.

5. Một số lưu ý khi đề xuất công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích đầu tư phát triển

Như đã nêu trên, trong phần đề xuất của mình, xin ông bà lưu ý đến một số vấn đề sau:
a) Công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển có quan hệ mật thiết với nhau. Khi đề xuất sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển phải có đề xuất kèm theo công nghệ cao nào là công nghệ nền tảng để tạo ra sản phẩm đó.
Thí dụ:
Công nghệ: công nghệ chế tạo/sản xuất vắc xin tái tổ hợp
Sản phẩm: Vắc xin Viêm gan B tái tổ hợp.
b) Cần đề xuất công nghệ cao và sản phẩm công nghệ cao với thông số kỹ thuật để thể hiện tính hiện đại, tiên tiến và tính mới của sản phẩm.

Thí dụ 1:

Sản phẩm: Chip máy tính dưới 45 nanô mét
Công nghệ: Công nghệ chế tạo các bộ vi sử lý bán dẫn dưới 45 na nô
mét.

Thí dụ 2:

Công nghệ: Công nghệ chế tạo polymer siêu hấp thụ nước
Sản phẩm: Vật liệu polimer siêu hấp thụ nước có khả năng hấp thụ 300-400g H2O/1 g sản phẩm, tốc độ hấp thụ nước 25 phút, thời gian giữ nước 12-15 tháng, sử dụng nguyên liệu trong nước.
c) Một số công nghệ được đề xuất là những công nghệ cao nhưng không nhất thiết phải tạo ra sản phẩm hàng hóa là sản phẩm công nghệ cao mà chỉ tạo ra những ứng dụng có ý nghĩa rất lớn trong kinh tế -xã hội.

Thí dụ: Công nghệ ghép gan.

Vụ công nghệ cao rất mong được ông/ bà cho ý kiến đề xuất và gửi cho Vụ công nghệ cao trước ngày 28 tháng 2 năm 2009. Trong quá trình xin ý kiến xin ông/bà liên hệ với Vụ CNC theo số máy 043 9438418.
Xin trân trọng cám ơn./.
Vụ công nghệ cao.

TagsTags: hightech 
September 17, 2008September 17, 2008 Add comment1 comments Science Science

 Gần đây báo chí đưa tin một nhà máy sản xuất cồn nhiên liệu từ củ sắn sẽ được đầu tư tại Tỉnh Phú Thọ. Sau khi bài báo được đăng  thì đã có nhiều thành viên nhóm bio-vn phản đối, đặc biệt GS Nguyễn Lân Dũng còn nói sẽ đưa vấn đề ra quốc hội khi có dịp.

 

Mặc dù có nhiều ý kiến phản đối, mấu chốt của sự phản đối là lo ngại việc sản xuất cồn nhiên liệu từ săn (lương thực) sẽ ảnh hưởng đến an ninh lương thực. 

 

Ý kiến cá nhân tôi thì cho rằng việc sản xuất cồn nhiên liệu từ sắn trong giai đoạn này là cần thiết để tạo tiền đề cho việc nghiên cứu, sản xuất, buôn bán và sử dụng cồn nhiên liệu, ngoài ra còn tạo công ăn việc làm cho công nhân nông nghiệp. Nếu diện tích trồng sắn tại Tỉnh Phú thọ được lựa chọn là những vùng không thể thích ứng với những cây có giá trị lương thực cao hơn thì đây là một dự án chấp nhận được. 

 

Dưới đây là bài viết của tôi trao đổi trong nhóm bio-vn (copy nguyên xi): 

 

Em có theo dõi các ý kiến phản đối về việc sản xuất ethanol nhiên liệu ở Việt Nam em cũng định có ý kiến nhưng lại thấy chỉ có mình mình có ý kiến chiều khác nên đã định không nói gì.  Có một số bác/anh/chị phản đối việc sx cồn nhiên liệu từ tinh bột và như em đã nói từ mail trước là ultimate goal của chúng ta vẫn là cellulosic ethanol, còn việc sản xuất từ tinh bột chỉ là bước đệm tạo thị trường, công nghệ và thiết bị thích ứng với việc sử dụng nhiên liệu có pha ethanol.  

 

Nếu bác/anh/chi nào đọc hết cái link em gửi ở mail trước đây về vấn đề này thì sẽ thấy rõ hiện nay DOE-JGI (DOE-Joint-Genome Institute) Hoa Kỳ đang có kế hoạch tổng thể và từng bước như thế nào. Cái technical barrier của cellulosic ethanol bây giờ chính là giảm giá thành [enzymes] của việc phân hủy cellulose thành fermentable components. Với việc leo thang của giá dầu mỏ như hiện nay và tốc độ của việc tìm kiếm/cải tiên enzyme phù hợp thì quãng thời gian để có được cellulosic ethanol ở giá có thể cạnh tranh được với giá dầu mỏ càng được rút ngắn nhanh chóng. Phải nói rằng trước khi giá dầu mỏ leo thang như hiện nay thì ngay việc sản xuất cồn nhiên liệu từ ngô ở Hoa kỳ cũng được gọi là "politically subsidised biofuel" bởi một số nhóm họat động xã hội.  

 

Song song với việc giảm giá thành enzyme đường hóa cellulose là việc tìm kiếm/nâng cấp một vài loại cây có khả năng cung cấp biomass tốt nhất. Em nghĩ rằng đây là một công việc đòi hỏi nhiều công sức và đầu tư. Để tránh mâu thuẫn với an ninh lương thực, cây sinh khối phải không cạnh tranh lên đất nông nghiệp như vậy cây đó có thể phải có tính chịu hạn rất lớn, hay chịu úng rất lớn, lại có thể chịu mặn, v.v.v. Hơn nữa việc có được một vài loại cây sinh khối có hiệu suất quang hợp cao (thậm chí có thể phải engineered) là rất quan trọng (một trong những việc đó là ức chế hô hấp sáng).  

 

Nói một cách rộng ra, cây sinh khối chính là một dạng pin dự trữ năng lượng mặt trời.  

 

Cách đây 5 tháng nếu bác/anh/chị nào theo dõi thì biết người ta công bố trên Nature về trình tự genome của Tricoderma reesei, một loại vi nấm có khả năng phân hủy cellulose thành fermentable components rất tốt, tuy nhiên kết quả lại cho thấy số lượng gene tổng hợp cellulase của con này rất ít so với các vi khuẩn/ nấm khác. Và người ta đã gợi ý rằng với việc chỉ contain 1 lượng gene hạn chế như vậy thì người ta hoàn toàn có thể nâng cấp chúng thông qua kỹ thuật di truyền để có được 1 chủng đột biến tốt hơn nhiều.  

 

Nhật bản cũng không nằm ngoài lề của việc này, trên 1 chương trình tivi khoa học phát đi cuối tháng 4 vừa qua họ cho biết một nhóm nhà khoa học của họ đã có được con đột biến này rất tiếc em ko biết tiếng Nhật nên ko thể nói nhiều về nó, em vẫn đang nhờ người lấy file video của chương trình đó để cho các bác/anh/chị tham khảo.   

 

Với sự phát triển của công nghệ genome sequencing (sequence cả bộ gene) như hiện nay thì việc phát hiện ra những gene mã hóa cho cellulase đặc hiệu và có họat tính cao sẽ diễn ra rất nhanh, và microbial metagenomic sẽ là một cách tiếp cận hợp lý cho việc phát hiện các cellulase mới. Có lẽ cũng cần phải nói thêm rằng để đẩy nhanh việc phân hủy cellulose thành đơn phân tử ko chỉ cần có cellulase mà cần có cả cơ chế gắn kết hiệu quả giữa vi sinh vật sinh cellulase với cơ chất. 

 

Em có vài ý kiến như thế, nếu có gì ko phải và chưa phải xin nhận được chỉ giáo.

TagsTags: biofuel 
September 9, 2008September 9, 2008 Add comment2 comments Science Science

Thử sửa câu hỏi này cái nhá!

TBT Nguyễn Anh Tuấn: Nhiều bạn đọc băn khoăn về tiềm năng nhân lực KHCN. Ta đạt nhiều giải quốc tế nhưng không có những nhà KH hàng đầu thế giới và chưa có những sản phẩm hàng đầu thế giới...

- Bộ trưởng Hoàng Văn Phong: Ta có tiềm lực lớn, tôi khẳng định điều đó là đúng. Đi thi được giải thì có đặc thù khác. Đi thi thì có người đặt vấn đề cho anh rồi, nhưng người sáng tạo phải tự đặt vấn đề.

Nhưng dù gì, cả 2 khâu nói trên đều quan trọng. Đi thi là tiếp thu kiến thức và vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể tuy nhiên có sáng tạo, những người này cũng rất giỏi. Nhưng sáng tạo là tự đặt ra bài toán rồi giải. Cuộc thi robotcon VN 3 lần đoạt giải nhưng con robot đó khác với con robot do Sony làm ra. Bản thân chúng ta cũng đang mày mò để xem phải làm gì.

 

Anh Tuấn hỏi thế kia chứng tỏ anh Tuấn đã đánh đồng việc nghiên cứu khoa học với việc tìm một lời giải có sẵn (có người biết và có người chưa biết) cho một vấn đề.

Với các cuộc thi, tất cả các vấn đề nêu ra đã có lời giải, có thể 1 hoặc 2, và nhiệm vụ của người đi thi là phải đưa ra lời giải đúng.

Còn nghiên cứu khoa học là đi tìm lời giải cho một vấn đề mà chưa ai biết trước lời giải cả anh ạ! Thậm chí còn không biết liệu có lời giải nào cho nó không! Với nhiều “nhà khoa học” của tây và ta thì việc phát hiện vấn đề đúng còn là một việc khó.

Exams

Research

You are told exactly what you are looking for

You do not know what you are looking for

You are given all the necessary data

You do not have all the data, if any

The answer exists, is unique, someone already knows it and you have to figure it out or verify it

The answer may not exist, may not be unique, no one knows whether it exists or how to find it

Khi nào anh rảnh, mời anh đọc bài viết này, tôi nghĩ rằng nó sẽ giúp anh phân biệt những kỹ năng cần có của một người làm nghiên cứu (nhà khoa học) với một sinh viên đại học.

Chúc anh và các bạn KHỎE!

TagsTags: vnn interview science 
July 9, 2008July 9, 2008 Add comment0 comments Science Science

Cửa sổ có thể được làm sạch bởi nước mưa, ghế sofa trắng thì “miễn dịch” với các vết rượu vang đỏ, gạch men thì được bảo vệ khỏi tích tụ của sạn vôi – những sản phẩm mới được tạo ra từ những vật chất nhỏ bé mà người ta gọi là các hạt nanô đang làm cho những giấc mơ như thế trở thành hiện thực.

Dựa vào các hạt nhỏ bé, khoảng 10.000 lần nhỏ hơn sợi tóc, những sản phẩm đó là một trong những ứng dụng mới và rộng rãi của công nghê nanô, môn khoa học sản xuất nguyên tử và phân tử. Hạt nano đang có mặt trong mọi thứ.

Trong tình huống tốt nhât thì những hạt nano này vô hại và có thể giúp bảo vệ môi trường khỏi việc sử dụng quá nhiều các chất tẩy rửa gây ô nhiễm.

Tuy nhiên một số nhà khoa học đang lo ngại rằng những vật liệu “thần kỳ” này đang được đưa ra thị trường trước khi những ảnh hưởng của chúng lên sức khỏe con người và môi trường được nghiên cứu một cách đầy đủ.

Nếu một vật chất hóa học nào đó đã được thương mại hóa trước đó ở dạng vật liệu lớn hơn kích thước nano và được quy định trong danh sách của “đạo luật quản lý về vật chất độc” thì nó được coi là “đang tồn tại” bởi tổ chức bảo vệ môi trường Hoa Kỳ- và dạng vật liệu có kích thước nano của vật chất đó không bị bắt buộc phải kiểm tra thêm.

Các nhà khoa học như Jennifer Sass của Ủy ban bảo vệ Tài nguyên Thiên nhiên đã cho rằng như thế là một sai lầm, và những hạt nano phải được coi là vật liệu mới và hoàn toàn khác.

Sở dĩ như vậy bởi đã có một số báo cáo khoa học gợi ý rằng những hạt nanô có thể mang một nguy cơ cho sức khỏe con người và môi trường. Ví dụ như cá bơi trong nước có chứa một lượng rất nhỏ fullerenes, một loại hạt nanô hình quả bóng được tạo bởi 60 nguyên tử carbon, đã có tổn thương lớn ở não bộ. Vật liệu này hoàn toàn tương tự như fullerenes đang được sử dụng trong hàng lọat các sản phẩm dưỡng da.

Trong một nghiên cứu khác người ta đã cho thấy rằng chuột nhà tiếp xúc với hạt nanô của oxit mangan có lưu trữ vật liệu này trong não bộ

Cảnh báo về hạt nano

Các nhà khoa học cũng đã cho thấy rằng những hạt nanô rất nhỏ, được gọi là quantum dot, có thể xâm nhập qua da của lợn. Những nghiên cứu khác gợi ý rằng từ da chúng có thể di chuyển qua hệ thống ống lympho để đi đến các hạch bạch cầu (lymph nodes) và cuối cùng là đến các cơ quan như gan, thận và lá lách.

Và khi hít vào thì những hạt nano sẽ đi sâu vào phổi hơn so với những hạt có kích thước lớn hơn và đến được những bộ phận nhạy cảm hơn. Vì lẽ đó, các nhà khoa học đặc biệt lo ngại về việc sử dụng hạt nano trong những sản phẩm phun.

Andrew Maynard, tư vấn trưởng về khoa học (Chief Scientific Adviser) của Dự án về những công nghệ Nanô đang hình thành có trụ sở ở Washington cho biết “Chúng tôi đã có những nghiên cứu cho thấy rằng khi một vật liệu giảm kích thước, nó trở nên có hại với phổi. Hạt nano có xu hướng gây viêm đối với phổi, và dường như phổi phải làm việc nhiều hơn để loại bỏ chúng”. Dự án này bắt đầu thực hiện trong năm 2005 bởi Trung tâm quốc tế Woodrow Wilson dành cho Học giả và Quỹ nhân đạo Pew để đảm bảo rằng những lợi ích của công nghệ nanô có thể được phát hiện đồng thời những rủi ro được hạn chế.

Sự thiếu hụt thông tin

Ông cho biết thêm “Chúng ta có thể làm được những điều vĩ đại với công nghệ này, thế nhưng hiện đang có một sự thiếu hụt những thông tin về cách thức sử dụng những hạt nanô một cách an toàn”.

Để có một bức tranh toàn cảnh tốt hơn về những loại vật liệu nano nào đang được thương mai hóa, tổ chức Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ đã khởi động một chương trình tự nguyện hồi tháng Giêng gọi là “Chương trình Trách nhiệm Quản lý về vật liệu có kích thước Nanô”. Hiện tại đã có 2 công ty đã giao nộp số liệu là DuPont và Office ZPI, trong khi 10 công ty khác đã đồng ý là sẽ báo cáo số liệu.

Một cách khác để tìm ra những hạt nanô nào đang được sử dụng trong các sản phẩm thương mại là tìm kiếm trên cơ sở dữ liệu lưu trữ bởi Honolulu Nanowerk. Cơ sở dữ liệu này, giúp các nhà sản xuất tìm các nhà cung cấp về hạt nanô mà họ cần, có chứa 1.955 loại hạt nanô khác nhau được sản xuất bởi 135 nhà cung cấp trên toàn thế giới. Những hạt nanô này đại diện cho hơn 100 thành phần hóa học khác nhau với kích thước từ 1 nanomét đến hơn 100 nanomét.

Maynard nói “Tôi nghĩ đây là nguồn thông tin tốt nhất về vật liệu nano mà bạn có thể mua được. Đây là những vật liệu thương mại. Khi đi vào các phòng thí nghiệm, thì danh sách này sẽ dài hơn rất nhiều (tức là còn nhiều đang nghiên cứu trong Lab mà chưa thương mại hóa).

Các nhà nghiên cứu không chỉ lo lắng vì sức khỏe con người mà còn lo lắng về những hiệu ứng mà hạt nano có thể gây nên cho môi trường, đặc biệt là những hạt nano bạc.

Maynard cho rằng đặc tính kháng khuẩn của hạt nano bạc là nguy hiểm với những vi sinh vật cần thiết cho hệ sinh thái. Hồi tháng 4 các nhà khoa học ở một hội thảo thường niên của hội Hóa học Hoa Kỳ tại New Orleans đã kiểm tra 6 loại tất chân khác nhau có chứa hạt nano bạc để làm giảm mùi hôi do chân tạo ra. Một vài loại tất đã giải phóng toàn bộ hạt nanô bạc khi giặt với nước ở nhiệt độ phòng, trong khi vài loại khác thì không.

Những công việc xử lý nước thải không thể loại những chất này ra khỏi nước vì thế những hạt nano bạc thải ra sẽ có mặt ở sông, hồ, và nước biển.

Samuel Luoma, một nghiên cứu viên cao cấp về nước của tố chức đánh giá địa lý Hoa Kỳ, đang nghiên cứu xem việc gia tăng sử dụng hạt nano bạc có thể ảnh hưởng lên môi trường như thế nào.

Ông nói “Chúng ta biết bạc rất độc đối với thực vật trong môi trường nước và động vật không xương sống như trai, hàu và ốc (nhuyễn thể). Bạc còn độc cho thực vật phù du (phytoplankton), một mắt xích chính trong nhiều chuỗi thức ăn.”

Cũng giống như bạc “bình thường” khác, bạc ở kích thước nano sẽ liên tục giải phóng ra ion bạc, tạo nên những ảnh hưởng không tốt cho sinh vật thủy sinh. Và cũng có thể rằng những hạt nano này còn có thêm những độc tính khác do sự nhỏ bé về kích thước.

“Chúng ta biết cực kỳ ít về bạc ở dạng hạt nanô” Luoma nói.

Hiện tại người ta cũng không biết liệu bạc nano có ảnh hưởng lên con người như thế nào. Thường thì bạc tích lũy trong nhiều cơ quan trong cơ thể nhưng không gây hại gì.

Luoma nói “Hiện nay đang có bùng nổ về những sản phẩm này, nhưng chúng ta không thể đánh giá được những rủi ro một cách có cơ sở khoa học. Cách đơn giản nhất mà chính phủ [Hoa Kỳ] có thể làm là yêu cầu các nhà sản xuất cung cấp về lượng bạc đã được sử dụng trong mỗi sản phẩm.”

Tổ chức Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA) coi một số công dụng của hạt nano như là một thuốc trừ sâu bệnh, và vì vậy chúng cần được đăng ký theo một đạo luật liên bang về chất diệt côn trùng, nấm, gặm nhấm. Tuy nhiên cho đến nay thì EPA chưa hề nhận được một hồ sơ đăng ký nào như thế.

“Chúng ta vẫn chưa đăng ký một loại thuốc trừ sâu nano nào” Jack Housenger, Phó Giám đốc của bộ phận ảnh hưởng sức khỏe thuộc văn phòng các chương trình thuốc trừ sâu, nói.

Một báo cáo đăng tải vào ngày 02 tháng 4 bởi Liên minh các chất độc của thung lũng Silicon đã so sánh giữa “quả bom” công nghệ nano ngày nay với sự bùng nổ công nghiệp điện tử ở những năm 1980 đã làm cho hệ thống nước ngầm tại khu vực Santa Clara bị ô nhiễm. Hiện tại đang có sự thiếu hụt những số liệu về ảnh hưởng của vật liệu nano đến sức khỏe con người và môi trường và cũng chưa có một công nghệ nào để theo dõi những chất ô nhiễm nano trong môi trường.

Nhiều ứng dụng tốt

Mặc dù có những báo cáo báo động, Luoma cho rằng hạt nano bạc là rất hữu dụng.

Những hạt đó “rất được việc” trong bệnh viện, chúng có thể tiêu giệt những vi khuẩn kháng lại với kháng sinh thông thường. Việc bao bọc những mảnh xương nhân tạo (như xương hông, xương vai) với hạt nano bạc có thể ngăn chặn việc tích lũy vi khuẩn gây viêm nhiễm hàng nhiều năm sau khi ghép xương.

Luoma cho rằng đây là một thử thách trong bối cảnh thiếu thốn những thông tin khoa học [về tác hại của vật liệu nano]. Làm thế nào chúng ta có thể hạn chế việc sử dụng, những ứng dụng nào cần điều chỉnh những ứng dụng nào cần được cho phép?

Maynard, thuộc dự án những công nghệ nano mới, cho rằng cần phải tăng thêm kinh phí nghiên cứu về lĩnh vực an toàn của vật liệu nano.

Nguồn: www.cynosura.org 

TagsTags: safety nanomaterials 
March 19, 2008March 19, 2008 Add comment0 comments Science Science
Tại sao trong hàng triệu các nhà khoa học có người thì có thể đăng hết bài này đến bài khác tất cả đều hay và được cộng đồng nghiên cứu quan tâm (trích dẫn nhiều) trong khi đó một số người khác thì không làm được điều đó? Điều gì đã làm nên sự khác biệt này? Cái gì đã làm cho nhà khoa học này thì trở thành Darwin nhà khoa học kia thì trở nên vô dụng?

Sau nhiều năm tranh cãi về vai trò cũng những yếu tố như sự thông minh, giới tính, may măn, v.v., một nghiên cứu mới cho một kết quả bất ngờ về yếu tố quyết định thành công hay thất bại của các nhà khoa học – đó chính là bia (beer).

Theo một bài báo công bố trên Oikos, một tạp chí chuyên ngành, thì các nhà khoa học càng uống nhiều bia thì cơ hội để có bài báo và bài báo được nhiều người trích dẫn càng giảm.

Tác giả của bài báo, TS Tomas Grim, một nhà chim học (điểu cầm học) thuộc trường đại học Palacky, Cộng hòa Séc, ông thường nghiên cứu về những biểu hiện của chim chứ không phải của các nhà khoa học. Ông cho biết dù rất ngạc nhiên nhưng ông rất vui về mối quan hệ mà ông phát hiện ra.

Mathew Symonds, một nhà sinh học tiến hóa tại đại học Melbourne, người đã từng nghiên cứu về những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả nghiên cứu khoa học, cho biết kết quả này là rất đáng chú ý.

Bài báo này mặc dù công bố mối liên hệ giữa uống bia và hiệu quả nghiên cứu khoa học nhưng không đi sâu vào giải thích mối tương quan đó, điều đó để mở một khả năng là không phải vì uống bia mà giảm hiệu quá nghiên cứu mà là ngược lại.

TS. Mike Wester, một nhà chim học và cũng yêu thích uống bia ở đại học quốc gia Washington tại Pullman cho biết “có thể chính những kẻ không có khả năng công bố các bài báo đang tìm quên nỗi buồn đó trong những cốc bia”.

Dù có công bố như trên, tác giả, TS Grim cho biết thỉnh thoảng ông có thể uống hơn 12 cốc bia trong một đêm và ông không có ý định vận động giảm uống bia trong cộng đồng các nhà khoa học.

Nguồn: Lược dịch từ New York Times, bài công bố gốc trên Oikos.

 

 Original source

TagsTags: beer paper publication 
February 1, 2008February 1, 2008 Add comment0 comments Science Science

Bài này copy từ The Scientist, post lên đây cho nhớ, khi nào rảnh nghiên cứu!

 

Food scientist Tony Jin's dissertation had something most don't: A picture of a Jack in the Box restaurant. While completing his master's degree in food engineering at the University of Missouri in 1993, the restaurant chain had an outbreak of Escherichia coli. He chose his degree because he wanted to protect food from pathogens, and that outbreak sealed his fate, so to speak.

 

More than 20 years later, the food industry remains vulnerable. In October, Jin learned that meat processor Topps had issued one of the largest beef recalls ever (more than 20 million pounds) due to contamination by E. coli, forcing the largest supplier of frozen hamburgers to shut its doors. This recall occurred one year after contaminated spinach sickened 205 people, killing three. These outbreaks are part of what gets Jin to work every day. "I wish I could go faster to do a better job to protect our citizens," he says.Two images of the nisin PLA polymer, outer surface (left) and cross-sectional (right) views. Nisin is evenly distributed, ensuring its slow but continuous release

 

Jin now presides over a lab in the US Department of Agriculture's eastern regional research center in Wyndmoor, Pa., where he works on antimicrobial coatings for film and liquid containers. As he and I talk, a small cabinet jiggles four bottles, emitting a hum that underscores our conversation. Jin explains that the liquid sloshing inside the bottles contains microbes, and insides of the bottles are coated with an antimicrobial film he designed.

 

When Jin arrived at the USDA facility, his first projects focused on pectin, a gelling agent derived from plants most commonly used in making jams and jellies. It is also an antimicrobial agent, which he thought might work as an edible film to protect food from E. coli. Early tests showed that pectin films protected against Lysteria monocytogenes and L. plantarum. But Jin soon figured out that edible films wouldn't be enough. "I realized we would still need regular packaging for film-wrapped foods," he says. So he turned his focus to polylactic acid, a biodegradable polyester derived from cornstarch with antimicrobial properties, which he could incorporate into regular packaging.

 

To give packaging extra antimicrobial effects, Jin sprays coatings and containers with polylactic acid and nisin, a polypeptide bacteriocin also derived from cornstarch, to knock out L. monocytogenes. In July, he presented a paper at a food science conference that showed his PLA/nisin polymer protected against L. monocytogenes and the virulent form of E. coli.

 

Jin is one of a group of investigators using science to improve food's appearance and longevity, with techniques ranging from edible lids on yogurt to high gloss on chocolates. Michael Chikindas, a food scientist at Rutgers University, says that nisin and polylactic acid make "a very promising matrix," and Jin's "engineering and chemistry are outstanding." Chikindas' team at Rutgers, led by Kathryn Urich, is adding antimicrobials derived from substances like thyme and clove directly to food, to block the formation of microbial biofilms on food surfaces.

 

In his current experiments, Jin is adding his PLA/nisin film to the insides of bottles of egg white and orange juice, and to the packaging surrounding sliced turkey. If his preliminary tests go well, he'll begin testing his films in larger quantities, and over longer periods. For that, he'll need some new equipment: During a tour of the facility, he walks into a noisy room full of working industrial machinery. There, like someone standing next to a new car in his driveway, Jin points with pride to an empty space which, if all goes well, will house a new bottling machine, capable of bottling three liters of liquid per minute.

January 27, 2008January 27, 2008 Add comment0 comments Science Science
Đó là định hướng được đưa ra tại hội nghị "Đẩy mạnh sản xuất, chế biến bảo quản thức ăn thô xanh phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ" do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức ngày 18/12 tại Ba Vì (Hà Tây).

Theo Cục Chăn nuôi, hiện nay, tổng đàn gia súc ăn cỏ của cả nước lên tới trên 11,5 triệu con. Tuy nhiên, diện tích trồng cỏ của cả nước mới đạt trên 45.000 ha, chỉ đáp ứng được 7,6% nhu cầu thức ăn thô xanh của gia súc ăn cỏ. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này do các địa phương chưa quy hoạch đất trồng cỏ, chưa khai thác hết diện tích đất chưa sử dụng và chưa mạnh dạn chuyển đổi một phần đất nông nghiệp sang trồng cỏ thâm canh. Nông dân chưa có tập quán xây dựng vùng nguyên liệu thức ăn cho gia súc, chủ yếu dựa vào bãi chăn thả tự nhiên và thức ăn tận dụng. Bên cạnh đó, các địa phương cũng chưa có chính sách khuyến khích, hỗ trợ chuyển đổi diện tích đất trồng trọt sang trồng cỏ và thức ăn xanh. Tình trạng thiếu thức ăn thô xanh cho chăn nuôi là một trong những nguyên nhân làm cho ngành chăn nuôi phát triển chưa tương xứng với tiềm năng.

Phát biểu tại hội nghị, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát cho rằng, ngành chăn nuôi nước ta vẫn phát triển chậm so với nhu cầu. Có nhiều nguyên nhân, trong đó bên cạnh yếu tố dịch bệnh, việc thức ăn chăn nuôi tăng giá với mức 20-30% là một trong những yếu tố chính ảnh hưởng đến tốc độ phát triển của ngành. Hiện nay, thị trường thức ăn chăn nuôi của nước ta phụ thuộc lớn vào thị trường thế giới, trong khi đó hiện do giá dầu mỏ tăng cao, một số quốc gia đã chuyển hướng dùng ngô để chế biến Ethanol. Vì vậy, sản lượng ngô chế biến thức ăn chăn nuôi sụt giảm, dẫn đến giá thành tăng cao. Dự báo xu hướng này vẫn còn tiếp diễn và có thể ở quy mô cao hơn. Do đó, ngành chăn nuôi tiếp tục phải đối mặt với vấn đề giá thức ăn chăn nuôi ở mức cao.

Theo Bộ trưởng Cao Đức Phát, giải quyết tình trạng này, ngành chăn nuôi phải có sự điều chỉnh cơ cấu chiến lược, trong đó đẩy mạnh phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ được coi là hướng chính. Chủ trương phát triển sản xuất thức ăn thô xanh là chủ trương mới và rất quan trọng của ngành chăn nuôi trong giai đoạn hiện nay. Đối với những vùng phát triển mạnh chăn nuôi gia súc ăn cỏ, cỏ phải được coi là cây trồng chính và trồng cỏ phải được coi là hướng chuyển dịch hướng tới thâm canh.

Với định hướng quy hoạch sản xuất thức ăn thô xanh phù hợp với điều kiện từng vùng, đáp ứng đủ nhu cầu thức ăn thô xanh để phát triển chăn nuôi trong nước, đồng thời xuất khẩu sản phẩm thức ăn thô xanh trong khu vực và tiếp cận thị trường quốc tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đề ra mục tiêu đưa diện tích trồng cỏ lên 290.000 ha vào năm 2010 và 500.000 ha vào năm 2020. Bộ cũng yêu cầu các địa phương xây dựng quy hoạch phát triển đồng cỏ, đồng thời có cơ chế hỗ trợ, khuyến khích nông dân phát triển trồng cỏ phục vụ chăn nuôi./.

TagsTags: mard forage ruminant 
September 27, 2007September 27, 2007 Add comment2 comments Science Science

It is not the first time a question like this comes to my mind. We are not rich enough to spend on basic research, well, but what should we do with the government research funds so not to do something that should be done by Biotech Companies?

 

Myself, I am focusing on Agricultural biotechnology, I have few things in my mind but dont know in what order it should be, please feel free to give advices. Your inputs will be much appreciated. Feel free to criticize too!

 

1- Development of crops that can survive and produce biomass in the extreme environment conditions, such as draught, salinity, flood, temperatures (abiotic stresses), etc.

2- Development of crops that immune to diseases (biotic stress).

3- Metabolics engineering for crops with improved traits, including higher yields and better nutritive values, more convenient in cultivation practices (herbicide tolerance crops for example).

4- Conversion of agricultural wastes & by-products into useful biomasses, such as feeds, fertilizers, fuels, etc.

5- Development functional and nutriceutical foods, previously we try to supply enough food to prevent hungry, and now we are not hungry anymore, thus we need to eat "healthy foods".

6- Bioremediation, development of crops/organisms that can utilize and convert the toxic compounds into non-toxic compounds, for example dioxin-degrading strains, heavy-metal utilizers, organic compound destroyers (to reduce BOD in waste water, drainages).

7- Development of plant(s) that have high conversion efficiency from solar energy to biomass, minimize or disrupt photo-respiration

8- Biofuels to save the environment

. . . .

 

For the regulatory affairs:

1- Development of rapid and accurate analytical methods for bio/chemical harzard identities

. . .

 

 

September 18, 2007September 18, 2007 Add comment0 comments Science Science

Đọc bài viết "Ngừa bệnh bằng khẩu phần ăn giàu Selen" đăng trên báo SGGP, tôi xin có một vài ý kiến nhằm cung cấp thêm thông tin cho bạn đọc.

 

Bài viết trên báo SGGP: "Ngừa bệnh bằng khẩu phần ăn giàu Selen" đăng ngày 21/8/2007 có đoạn:

 

"Một ví dụ khác là nghiên cứu của Larry Clack (thuộc Trường ĐH Arizona, Mỹ) đã chứng minh rằng, nếu sử dụng 200g Selen trong vòng 10 năm thì gần như bệnh ung thư không phát triển thêm và giảm đáng kể hậu quả của các bệnh ung thư tuyến tiền liệt, phổi và đại tràng".

 

Thứ nhất, đọc câu trên người đọc không hiểu là sử dụng 200g Selen chia đều cho 10 năm hay là tính theo đơn vị thời gian nào (200g/ngày, tuần, tháng trong vòng 10 năm?). Giả sử người viết bài báo nói là sử dụng 200g selen chia đều cho 10 năm, vậy thì mỗi năm sẽ sử dụng 20gam, tức là mỗi ngày sẽ sử dụng 0.054mg tương đương với 540 micro-gam.

 

Thứ hai, tên của nhà nghiên cứu trên là Larry Clark chứ không phải là Larry Clack!

Tuy nhiên, bài gốc của tác giả Larry Clark trên tạp chí The Journal of the American Medicine Association lại nói khác: "Patients were treated for a mean (SD) of 4.5 (2.8) years and had a total follow-up of 6.4 (2.0) years. INTERVENTIONS: Oral administration of 200 microg of selenium per day or placebo".

 

Theo thông tin này thì người bệnh phải dùng 200 micro-gam/ngày (chứ không phải 200gam và cũng không phải 540micro-gam) trong vòng 4.5 năm, sau đó tiếp tục theo dõi 6.4 năm (a total follow-up of 6.4 years). Như vậy, thông tin chuẩn không phải là "sử dụng 200g Selen trong vòng 10 năm" như bài báo đã nêu.

 

Phần cuối của bài viết lại có đoạn: "Tuy nhiên, TS Mai cũng khẳng định, nếu như mỗi người bổ sung quá 80 micro-gam Selen vào cơ thể có thể dẫn đến nhiều mức độ ngộ độc khác nhau. Trong đó, hiện tượng ngộ độc cấp tính có các biểu hiện như ho, buồn nôn, nôn, đau đầu, tổn thương mũi, da và mắt".

 

80 micro-gam đề cập ở đây là tính trên ngày, trên bữa ăn hay tính trên ki-lô-gam thể trọng? Nếu là tính trên ngày thì lại mâu thuẫn với số liệu phía trên (200micro-gam/ngày).

 

Về mặt khoa học:

 

Theo chủ quan tôi hiểu từ những thông tin có sẵn thì vai trò và ảnh hưởng của nguyên tố selen với sức khỏe và việc phòng chống bệnh tật vẫn còn chưa rõ ràng, hay nói đúng hơn nguyên tố này là "một con dao hai lưỡi". Ngay trong cùng số báo với bài của tác giả Larry Clark, Tổng biên tập của tạp chí đó cũng đưa ra khuyến cáo: "Cần phải có những nghiên cứu sâu hơn mới có thể kết luận được".

 

Cách đây một tháng một bài báo trên tạp chí "Annals of Internal Medicine" (Mỹ) của cho biết việc bổ sung nguyên tố selen dài hạn có thể làm tăng nguy cơ bị tiểu đường nhóm 2. Thực ra năm 2004, một nghiên cứu trên chuột cũng đã chỉ ra nguy cơ tiểu đường và béo phì của chuột chuyển gen có hàm lượng protein chứa selen cao.

 

Một nghiên cứu khác đăng trên tạp chí "Nutritional Epidemonogy" (Mỹ) trong tháng 9 này cũng cho thấy việc bổ sung hỗn hợp chất chống oxi hóa trong đó có chứa 100micro-gam selen/ngày làm tăng nguy cơ bị ung thư da ở phụ nữ.

 

Original Article on Vietnam Week

TagsTags: selenium 
September 17, 2007September 17, 2007 Add comment0 comments Science Science
The Postdoc Trap
 
By Steven C. Smith
 

So, you're a new PhD in science? Congratulations! You're anticipating the benefits accrued from long nights in the lab, in front of the computer, or in the field. In the halcyon days of the '60s, some called your degree "the meal ticket." No longer. Now your parchment just gets you entry into the twilight zone of the postdoctoral fellow.

 

Welcome to the postdoc trap and life between the cracks of academia. Since you're neither student nor faculty member, your university likely won't know how to classify you. A non-person, you have few rights, no advocacy groups and no representation on governing bodies. You're alone.

 

If you're among the lucky few with a fellowship, you'll get roughly a secretary's salary, but no pension plan, dental plan, drug plan, maternity leave or employment insurance. Fall sick, and your salary's terminated. Taxes may not be deducted, so you'll have to budget carefully to pay them. If you're less fortunate, you must find a professor with a grant large enough to pay your salary, which may be smaller than a fellowship. You still get no benefits, and you're beholden to your supervisor.

 

For this you must do world-class research. Publish or perish like a professor, but while a prof might lose his or her grant, you could lose your income and possibly your career. And since you can't apply for grants, you can't control project funding. Although officially frowned on, it's enlightened self-interest to include your supervisor on publications. Your supervisor must also publish or lose the grant that supports you.

 

You may also want to gain some teaching experience. You'll teach the same courses as a prof, but for a fraction of the wage and no benefits. Faculty collective agreements don't apply, since you're part-time. Disagree with working conditions, and no one represents you. If a student sues you, your university might not defend you.

 

Teaching properly also takes time from the research you're paid to do. If research productivity declines, you could be forced into the underclass of "itinerant scholars," who teach incessantly just to survive. These instructors have no future, but are a boon to universities. Cheaper than "real" professors, they do the same teaching, bring in the same student fees and can be dropped any time. Alternatively, you can do a quick-and-dirty job, sacrifice less research time and get a deservedly poor student evaluation. Or you can forego teaching and concentrate on research, but have no teaching experience on your CV.

 

You could also find yourself supervising undergraduate (and possibly graduate) students. While you may enjoy this, you won't be paid for it. And since you likely won't be their official supervisor, you can't sign their forms, allocate funds for their work, pay them or defend them if they get into trouble.

 

Why are highly-qualified personnel subjected to this Dickensian treatment? Actually, an entire mythology surrounds postdocs. It has four tenets, each demonstrably false yet frighteningly persistent.


Myth 1: "The best time of your life"

 

This originated when postdoc stages were short, and jobs plentiful. Without course and thesis requirements, nor teaching and administrative obligations that force many dedicated professors away from the lab, you could concentrate on the science you loved doing. But today, is there no teaching or supervision? Not really. You may not be required to teach, but may not advance if you don't.

 

In addition, you'll face many personal pressures. You can't buy a house, since you don't know if you'll have a salary or where you'll be next year. If you have a partner, you face more problems.

 

If your partner is not a scientist, he or she may not understand why you work nights and weekends, vacations are rare, and you move so often. If your partner is a scientist, there are different worries. Stay together and one partner may remain unpaid or stagnate at work, through no fault of their own, and begin to resent the "successful" partner. Alternatively, you may reluctantly split up in the hope that one of you will find employment. If so, the unwritten agreement is usually that the other will follow. But universities often won't hire spouses, so the one who follows may see his or her career wither just when things should finally be improving.

 

Other problems await those who want a family. Bring your child into your world of no security or stability and you'll lose precious time for your research. Without maternity leave, you may lose your income. Furthermore, it may create a fatal gap in your research record. And if you postpone having children, you face an inexorably ticking biological clock.


Myth 2: "Training"

 

A persistent myth, this is a common justification for poor wages and other abuses. But is a postdoc just a trainee - a super-graduate student? Recent history and the positions offered to postdocs suggest otherwise.

 

In the '60s and early '70s many profs were hired fresh from grad school. Postdoctoral "training" was unnecessary. Were PhDs so much better then? Talk with profs from these days and you discover many initially struggled with teaching and writing grants. But they had stability and support, and often succeeded brilliantly. Not surprising: anyone who survives grad school is obviously committed and willing to work hard. Are today's graduates less dedicated? Not likely, or they wouldn't submit to the arduous process of grad school. Given the same opportunities, they'd likely do as well.

 

If postdoctoral "training" was once unnecessary, why have it now? As the golden age ended, research jobs became scarce. So postdoctoral positions were created as a holding pattern for graduates. Circling like vultures, postdocs waited for older professors to die off. As fewer profs were replaced the stack grew. Postdoctoral "training" became the norm.

 

The concept is self-reinforcing. It created a pool of highly-trained, specialized talent that's readily available, cheap and disposable. Postdocs do research, help with supervision and teaching, and are easily "trained" since they teach themselves - it's what they learned in grad school! Doubt this? Check the ads for postdoctoral positions. Most require demonstrated (read "published") expertise. Indeed, postdocs are often hired to bring new techniques into a lab.

 

Some university administrators believe they're doing postdocs a favor by training them to teach. But the "training" is the same as for earlier profs. You're responsible for a class - sink or swim.


Myth 3: "Excellence"

 

Imposed by politicians outside science, and perpetuated by winners within, this is based on the truism that competition removes the chaff and makes a better product. This social Darwinism may be true in politics and business, but science is, theoretically, based on cooperation, collaborative effort and free dissemination of information. How can you cooperate while brutally competing with your peers for severely limited resources? Furthermore, science explores the unknown, so it's likely counterproductive to guess which approaches are or are not "excellent." In the ultimate farce, the system foists competition for "excellence" on science, then uses competitive "collaborative grants" to promote cooperation!

 

Like all scientists, postdocs encounter the same self-defeating foolishness. The success rate for Medical Research Council postdoctoral fellowships is 15 per cent. For the Natural Sciences and Engineering Research Council fellowships, it's 25 per cent. Are 75 to 85 per cent of scientific PhDs so poorly trained? Is this a search for excellence, or a colossal waste of human resources? However, the idiocy continues. "Only excellent postdocs get fellowships." Good for your ego if you get one, but more a question of creative grantsmanship and blind luck; the success rate is approaching that of winning the lottery.


Myth 4: "Too long in the market"

 

This last myth seems particularly pervasive in Canada. It's epitomized by a quote from Ralph Korteling in University Affairs (May 1996): "If someone is in the job market a long time ... they haven't met the standards elsewhere." Interestingly, we also read that Dr Korteling's university currently has a hiring freeze. Have they stopped producing PhDs during that time? Undoubtedly not. It's also reported that Dr Korteling's department gets about 60 applications for every position. Is his department (and every other) producing this much deadwood?

 

To be fair, Dr Korteling is voicing a prevalent view from Canada's ivory towers, especially among those hired in the glory days. If you were good, worked hard and earned your PhD, you were rewarded with employment. If not, something was wrong. But in an age of cutbacks, hiring freezes, and shrinking faculties, you're not only squeezed out of grad school and into the trap, but if you don't get out soon, you're cut off. And it's your fault, not the system's!

 

Worse, this myth blatantly contradicts the "training" myth. Isn't more training better? Apparently not. Furthermore, faculty collective agreements which link starting salaries to experience make it fiscally preferable to hire those with less "training." Then again, why hire at all? A postdoc has the same expertise and works for minimal wages and no benefits.

 

This myth also pervades granting agencies. A personal anecdote is instructive. Starting out, I was good (lucky?) enough to get an NSERC fellowship. I began applying for jobs. After two years, I was no longer eligible for NSERC support - one per customer, and within four years post-PhD. So I applied for and got a two-year MRC fellowship, potentially renewable for one year. Very good, or very lucky? The job hunt continued. No success. But when I applied for the renewal, MRC replied that I was "highly qualified and very productive" and didn't need any more "training."

 

The implication's clear. Rather than a valuable member of the Canadian scientific community, I'm a scientific welfare bum who should stop mooching and get a job. No wonder many young Canadian scientists are saying (in the words of a friend): "Thanks for the bucks, I'm off to the States."

 

 

Link Out: The Postdoc Trap by Steven C. Smith

TagsTags: postdoc graduate 
September 14, 2007September 14, 2007 Add comment0 comments Science Science
  1. Sinh T Tran, Dung Tien Le, Young-Chang Kim, Malshik Shin and Jung-Do Choi (2009) Cloning and characterization of Phosphoglucose Isomerase from Sphingomonas chungbukensis DJ77. BMB Reports (formerly J. Biochem. Mol. Biol.) (Accepted)
  2. Dung Tien Le*, Byung Cheon Lee*, Stefano M. Marino, Yan Zhang, Dmitri E. Fomenko, Alaattin Kaya, Elise Hacioglu, Geun-Hee Kwak, Ahmet Koc, Hwa-Young Kim, and Vadim N. Gladyshev (2009) Functional analysis of free methionine-R-sulfoxide reductase from Saccharomyces cerevisiae. J. Biol. Chem. 284 (7), p: 4354-4364 | Abstract | DOI | (* - equal contribution)
  3. Byung Cheon Lee, Dung Tien Le and Vadim Gladyshev (2008) Mammals reduce methionine-S-sulfoxide with MsrA, are unable to reduce methionine-R- sulfoxide, and this function can be restored with a yeast reductase. J. Biol. Chem. 283 (42), p: 28361-28369 | Abstract | DOI |
  4. Dung Tien Le, Xinwen Liang, Dmitri E. Fomenko, Ashraf S. Raza, Chom-Kyu Chong, Bradley A. Carlson, Dolph L. Hatfield and Vadim N. Gladyshev (2008) Analysis of methionine/selenomethionine oxidation and methionine sulfoxide reductase function using methionine-rich proteins and antibodies against their oxidized forms. Biochemistry 47 (25), p:6685-6694. | Abstract | PDF |
  5. Satish Kalme, Chien Ngoc Pham, Vinaykumar Gedi, Dung Tien Le, Jung-Do Choi, Sung-Kun Kim, Moon-Young Yoon (2008) Inhibitors of Bacillus anthracis acetohydroxyacid synthase. Enzyme and Microbial Technology 43 (3), p:270-275. | DOI | PDF |
  6. Dung Tien Le, Hyun-Sook Lee, Young-Je Chung, Moon-Young Yoon, Jung-Do Choi (2007) Virtual Screening of Tubercular Acetohydroxy Acid Synthase Inhibitors by Analysis of Its Structural Models. Bull. Korean. Chem. Soc. 28 (6), p:947-952. | Abstract | PDF |
  7. Dung Tien Le, Moon-Young Yoon, Young Tae Kim and Jung-Do Choi (2005) Roles of three well-conserved arginine residues in mediating catalytic activity of Tobacco Acetohydroxy acid Synthase. J. Biochemistry (Tokyo) 138 (1), p:35-40. | Abstract | PDF |
  8. Dung Tien Le, Jung-Do Choi (2005) FAD-independent and herbicide-resistant mutants of tobacco acetohydroxy acid synthase. Bull. Korean. Chem. Soc. 26 (6), p:916-920. | Abstract | PDF |
  9. Dung Tien Le, Moon-Young Yoon, Young Tae Kim and Jung-Do Choi (2005) Two consecutive aspartic acid residues conferring herbicide resistance in tobacco acetohydroxy acid synthase. BBA-Proteins and Proteomics 1749, p:103-112. | Abstract | PDF |
  10. Sun-Mi Jung, Dung Tien Le, Sung-Sook Yoon, Moon-Young Yoon, Young Tae Kim, and Jung-Do Choi (2004) Amino Acid Residues Conferring Herbicide-Resistance in Tobacco Acetohydroxy Acid Synthase. Biochem. J. 383 (1), p: 53-61. | Abstract | PDF |
  11. Dung Tien Le, Moon-Young Yoon, Young Tae Kim, Jung-Do Choi (2004). Homology modeling and examination of the active site of tobacco acetohydroxy acid synthase. Biochem. Biophys. Res. Commun. 317 (3), p: 930-938. | Abstract | PDF | Cover Image |
  12. Dung Tien Le, Yoon Moon-Young, Kim Young Tae, Choi Jung-Do (2003). Roles of conserved methionine residues in tobacco acetolactate synthase. Biochem. Biophys. Res. Commun. 306 (4): 1075-1082. | Abstract | PDF |
  13. Le Tien Dung, Nguyen Kim Vu and Vu Van Vu (2001). Initial studies of the preservation of Lactuca sativa and Brassica juncea L. obtained by hydroponics. Journal of Biology, 23 (2): 60-63. In Vietnamese language.
TagsTags: publications 
September 14, 2007September 14, 2007 Add comment0 comments Science Science
Oxidation & reduction of methionine and its relevances in ageing and disease
 

Our body are made from millions of million cells. Each cell is built by three major chemical components, proteins, lipids and carbohydrates. Among the three components, proteins play vital roles in making up the structure and the functions of the cells.

Methionine, one of 20 common amino acids (& pyrolysine and selenocysteine) that build up a protein molecule, are extremely sensitive to oxidation of its side-chain sulfur to form methionine sulfoxide or methionine sulfone. The oxidation of methionine to methionine sulfoxide is known to occur readily inside living cells under elevated concentrations of reactive oxygen species (ROS). The oxidation of methionine mostly causes the proteins to be non-functional through inactivating the proteins. Evidence has been accumulated that methionine oxidation is accelerated in aged mice and a few dozens of proteins had been identified to has its methionine oxidation directly involves in disease propagation, including thrombosis, atherosclerosis, emphysema and neurodegenerative disorders such as Alzheimer and Parkinson.

Interestingly the oxidized methionine can be reduced to its original form by the cell's own enzymes, methionine sulfoxide reductases. Here at the Gladyshev Laboratory (and other groups) it has been shown that modulation of methionine sulfoxide reductase (Msrs) affects lifespan in yeast, fruit fly, and mammals.

My current research is aimed at asking several important questions. Approaches involve in this study include protein engineering, mammalian cell culture, molecular imaging, immunology, transgenic mouse model, biophysics methods and computational biology.

 

Acetohydroxy acid synthase

 

Proteins in our body are made up of 22 amino acids, which are classified into essential and nonessential amino acids. The term "essential amino acids" refers to the fact that these amino acids is important but can not be synthesized in our body, and thus we have to supply our body with these amino acids via diets. Unlike us humans and animals, plants and microbes are capable of production of essential amino acids, hence, they are a good dietary source those amino acids. Branched-chain amino acids such as Leucine, Isoleucine and Valine are essential amino acids.

Acetohydroxy acid synthase (AHAS) is the common enzyme catalyses the first common step in the biosynthesis of branched-chain amino acids in plants and microbes. It is also known as the target of several classes of potent herbicides, including sulfonylureas, immidazolinone and triazolopyrimidines. My research had been focused on the mechanism of action of AHAS in plant and its inhibition by several herbicides. Using computational modeling and biochemical approaches, I had mapped most of the important residues at the active site and herbicide-binding site of tobacco AHAS. I had also developed a mutant variant insensitive to herbicides without affecting its kinetics properties. This works were conducted at the Enzymology Lab at Chungbuk National University, Korea under the support of Professor Jung-Do Choi. This study has resulted in few publications which can be found at the publication section. Recently evidence has accumulated showing that AHAS could be a potential target to control intracellular disease-causing bacteria, such as tuberculosis. I have put together few data related to this hoping to submit it to a journal.

 

Rapid & Point-of-Care diagnostics

 

Rapid & point-of-care diagnostics are playing more and more important role in our life. As the name can tell, it can provide convenient and quick results of the tests. "Point-of care" allows the test to be conducted virtually anywhere while the "rapid" assists us in fast decision makings. I am interested in developing new test KIT and improving the sensitivity of currently available devices through employing nanoparticle conjugates as well as automation. The tests that I am interested in includes "foodborne pathogens", "mycotoxins", "infectious diseases", and "pesticide residues".

I am trying not to interest in everything, however I will keep my eyes open for other interesting topics.

TagsTags: research 
Description
aigu
Posts: 18
Comments: 12
Aigu's Blog for Science & Education
Categories
Science (12)
Education (4)
Tags
1 research (1)
1 postdoc (1)
1 graduate (1)
1 selenium (1)
1 vietnam (1)
1 mard (1)
1 forage (1)
1 ruminant (1)
1 biocoating (1)
1 food (1)
1 beer (1)
1 paper (1)
1 safety (1)
1 vnn (1)
1 interview (1)
1 science (1)
1 biofuel (1)
1 hightech (1)
Copyright © 2010 Overseas Vietnamese Researcher and Educator Network (OVREN).